Top 10 Nguyên Nhân Gây Ra Men Gan Cao Cách Xử Lý

Men gan cao là một dấu hiệu của viêm hoặc tổn thương tế bào gan. Các tế bào gan bị viêm hoặc bị thương làm cho men gan alanine transaminase (ALT) và aspartate transaminase (AST) bị rò rỉ vào máu. Tăng ALT và AST nhẹ thường được phát hiện ở những người không có triệu chứng trong quá trình làm việc thường xuyên. Nói chung, phạm vi bình thường cho ALT là 7 đến 56 đơn vị mỗi lít, trong khi phạm vi bình thường cho AST là 10-40 đơn vị mỗi lít. Độ cao nhẹ của cả hai enzym gan cao gấp 2 đến 3 lần so với mức bình thường.

10 nguyên nhân gây tăng men gan bao gồm:

1. Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu

Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFLD) là chẩn đoán được sử dụng để mô tả sự tích tụ mỡ bất thường ở gan của những người uống ít hoặc không uống rượu. Bệnh này là phổ biến và hầu hết các bệnh nhân không có dấu hiệu hoặc triệu chứng và không có biến chứng. Đây là nguyên nhân phổ biến nhất gây tăng men gan. Các yếu tố nguy cơ cho sự phát triển của NAFLD thường do:

+ Bệnh béo phì

+ Bệnh tiểu đường loại 2

Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu có hai dạng

+ Nhiễm mỡ gan

+ Viêm gan nhiễm mỡ không do rượu

Người ta ước tính rằng 30 phần trăm người lớn ở Hoa Kỳ mắc bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu. Bác sĩ mong đợi hơn 5 đến 10 phần trăm trọng lượng của gan là chất béo tại thời điểm chẩn đoán bệnh. Không có điều trị chuẩn cho NAFLD. Sự nhấn mạnh là giảm thiểu sự đóng góp của các yếu tố rủi ro thường được liên kết với NAFLD. Giảm cân nếu kiểm soát béo phì và béo phì của bệnh tiểu đường loại 2 được khuyến khích để giảm tỷ lệ phát triển NAFLD.

uống rượu nhiều nguyên nhân của bệnh gan

2. Bệnh gan do rượu

Bệnh gan do rượu (ALD) do lạm dụng rượu. Acetaldehyde là một hóa chất trong rượu rất độc hại, tất cả các nhà khoa học đều đồng ý rằng acetaldehyde gây hại cho gan. Bệnh xảy ra sau nhiều năm uống rượu nặng, nhưng không phải tất cả những người nghiện rượu nặng đều phát triển thành bệnh gan do rượu.

Bệnh gan do rượu có 3 dạng

+ Gan nhiễm mỡbệnh này nói chung có thể hết nếu kiêng rượu.

+ Viêm gan do rượu phát triển khi tiêu thụ một lượng lớn rượu trong một khoảng thời gian dài

+ Xơ gan do mô gan bình thường dần thay thế bằng các mô sẹo. Khi lượng mô sẹo tăng lên, chức năng của gan giảm.

Bệnh gan do rươu cách phòng ngừa và điều trị hiệu quả nhất là kiêng cữ uống rượu

uống thuốc kháng sinh nhiều nguyên nhân của bệnh gan

3. Bệnh gan do thuốc

Nhiều loại thuốc có liên quan đến tổn thương gan và tăng men gan. Nguyên nhân phổ biến nhất gây tổn thương gan do thuốc là thuốc giảm đau không kê toa acetaminophen (Tylenol). Các thuốc giảm đau khác bao gồm aspirin, ibuprofen (Advil, Motrin), và naproxen (Aleve) có thể gây tổn thương gan.

Thuốc kháng sinh có thể gây tổn thương gan như amoxicillin / clavulanic acid (Augmentin). Các kháng sinh khác gây tổn thương gan liên quan đến thuốc bao gồm các tác nhân sulfa và isoniazid (INH).

Tổn thương gan liên quan đến thuốc có hai dạng

+ Có thể đoán trước và có tính chất riêng biệt (không thể dự đoán được). Dự đoán tổn thương gan là phụ thuộc liều. Nói cách khác, liều lượng thuốc càng cao thì càng có nhiều tổn thương cho gan.

+ Tổn thương gan theo phong cách riêng là không thể đoán trước, thương do uống thuốc không theo đơn của bác sĩ.

virut siêu vi nguyên nhân gây ra bệnh gan

4. Viêm gan siêu vi

Viêm gan siêu vi mô tả tình trạng viêm gan do vi-rút, bệnh viêm gan siêu vi thường do vi-rút viêm gan A (HAV), siêu vi viêm gan B (HBV) và siêu vi viêm gan C (HCV) gây ra.

Người ta ước tính rằng 3,2 triệu người ở Hoa Kỳ mắc bệnh viêm gan C mãn tính và 1,2 triệu người mắc bệnh viêm gan B mãn tính. Những người bị viêm gan mạn tính được tăng lên để phát triển cả xơ gan và ung thư gan.

Việc điều trị viêm gan siêu vi khác nhau. Không có liệu pháp kháng virus nào có sẵn để điều trị bệnh viêm gan A, B và C cấp tính Do đó, việc điều trị chủ yếu là hỗ trợ.

Chỉ có cách thoát khỏi các bệnh viêm gan chính là tiêm phòng. Nhiễm trùng mạn tính với viêm gan B hoặc C có thể được điều trị bằng interferon và ribavirin. Gần đây nhất, thuốc theo toa có nhãn hiệu Harvoni đã được giới thiệu để điều trị viêm gan C mãn tính và tỷ lệ chữa trị cao tới 96%.

5. Bệnh Hemochromatosis

Hemochromatosis là một rối loạn di truyền của sự trao đổi chất sắt. Đây là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra tình trạng quá tải sắt nghiêm trọng. Sắt dư thừa có thể vào gan. Sự tích tụ sắt bất thường trong gan gây ra tổn thương. Kết quả nồng độ men gan bắt đầu tăng lên, đặc biệt là AST và ALT. [1]

Ba loại bệnh hemachromatosis:

+ Hemochromatosis chính, còn được gọi là hemochromatosis di truyền

+ Nhiễm sắc tố thứ phát

+ Hemochromatosis sơ sinh

Chìa khóa để điều trị bệnh hemochromatosis là loại bỏ sắt trước khi nó có thể gây tổn thương gan. Việc điều trị duy nhất được đề nghị cho bệnh hemochromatosis sơ cấp là thường xuyên loại bỏ máu thông qua phlebotomy.

Các biến chứng của bệnh sắc tố thứ phát có thể bao gồm xơ gan (sẹo rộng của gan) và ung thư gan.

6. Thiếu hụt Alpha-1 Antitrypsin

Thiếu hụt alpha-1 antitrypsin là một rối loạn di truyền có thể dẫn đến tổn hại phổi và gan. Alpha-1 antitrypsin là một loại protein bảo vệ phổi. Việc thiếu hụt protein này dẫn đến sự phá hủy các túi khí trong phổi.

Gan sản xuất alpha-1 antitrypsin thiếu gây ra tổn thương. Tổn thương gan dẫn đến tăng men gan, đặc biệt là ALT và AST.

Sự thiếu hụt alpha-1 antitrypsin do sản xuất ít hoặc không có alpha-1 antitrypsin trong cơ thể. Cách điều trị thiếu hụt alpha-1 antitrypsin là ngăn ngừa hoặc làm chậm tổn thương phổi và gan. Bỏ hút thuốc là điều bắt buộc đối với việc điều trị khí phế thũng thứ phát do thiếu hụt alpha-1 antitrypsin. Tiêm chủng phòng ngừa viêm gan A và B được khuyến khích để giảm khả năng mắc bệnh gan đáng kể.

7. Bệnh Wilson

Bệnh Wilson là chứng rối loạn chuyển hóa đồng hiếm gặp. Bệnh xuất hiện khi có đồng thừa trong gan, não, mắt và các cơ quan khác. Mức đồng dư thừa có thể gây tổn thương cơ quan đe dọa tính mạng. Dấu hiệu độc nhất của bệnh Wilson là triệu chứng vòng Kayser-Fleischer, kết quả từ sự tích tụ đồng trong mắt. Các vòng được mô tả như một chiếc nhẫn màu nâu đỏ xung quanh rìa của mống mắt (phần màu của mắt).

Đồng dư thừa gây tổn thương gan dẫn đến tăng men gan, đặc biệt là ALT và AST. Biến chứng gan của bệnh Wilson có thể bao gồm xơ gan (sẹo gan), suy gan và ung thư gan. Phân tích hàm lượng đồng của gan giúp chẩn đoán bệnh Wilson. Điều trị chủ yếu là phương pháp chelating giúp liên kết dư thừa đồng và loại bỏ nó khỏi máu. Phương pháp chelating được sử dụng để điều trị bệnh Wilson là trientine (Syprine) và d-pencillamine.

8. Bệnh bạch cầu đơn nhân (Mononucleosis)

Mononucleosis, hoặc “mono”, là một bệnh truyền nhiễm gây ra bởi virus Epstein-Barr. Nó đôi khi được gọi là “bệnh hôn” bởi vì nó có thể được truyền qua nước bọt. Bệnh này phổ biến nhất ở thanh thiếu niên và thanh niên.

Các triệu chứng chính của bệnh bạch cầu đơn nhân bao gồm mệt mỏi cực độ, sốt, đau họng và sưng hạch bạch huyết ở cổ. Xét nghiệm máu monospot thường dương tính và có thể chẩn đoán mononucleosis bằng cách phát hiện sự hiện diện của kháng thể đối với virus Epstein-Barr.

Các biến chứng của bệnh bạch cầu đơn nhân có thể bao gồm mở rộng lá lách và viêm gan. Viêm gan, hoặc viêm gan, làm tăng men gan, đặc biệt là ALT và AST.

Không có liệu pháp cụ thể để điều trị bệnh bạch cầu đơn nhân. Điều trị chủ yếu là hỗ trợ và có thể bao gồm nghỉ ngơi tại giường, dinh dưỡng âm thanh và uống nhiều nước. Tiên lượng cho bệnh bạch cầu đơn nhân là tuyệt vời, và các biến chứng nghiêm trọng là rất hiếm.

9. Nhiễm trùng Cytomegalovirus

Cytomegalo virus nguyên nhân gây ra bệnh gan

Cytomegalovirus (CMV) là một loại virus rất phổ biến. Đến tuổi 40, phần lớn người lớn ở Hoa Kỳ đã bị nhiễm cytomegalovirus. Nhiều nhiễm trùng cytomegalovirus không gây ra triệu chứng và bệnh nhân không biết bị phơi nhiễm.

Siêu vi khuẩn này có thể gây ra các triệu chứng ở những người có hệ miễn dịch suy yếu và trẻ sơ sinh của những bà mẹ mắc bệnh trong thời gian mang thai. Cytomegalovirus thường lây lan qua tiếp xúc gần gũi với dịch cơ thể như máu, nước bọt, nước tiểu, tinh dịch và sữa mẹ.

Cytomegalovirus có liên quan đến các vi rút gây bệnh thủy đậu, herpes và mononucleosis. Siêu vi khuẩn này dẫn đến nhiễm trùng mãn tính, mặc dù nó chủ yếu không hoạt động và có thể được kích hoạt lại. Ở trẻ sơ sinh và người có hệ miễn dịch suy yếu, cytomegalovirus có thể dẫn đến viêm gan, hoặc viêm gan. Viêm gan gây tổn thương gan, được phản ánh bởi các men gan cao (ALT / AST).

Không có cách điều trị nhiễm CMV, mặc dù các thuốc kháng virus có thể làm chậm quá trình sinh sản của virus.

10. Viêm gan tự miễn

Viêm gan tự miễn là một bệnh được đặc trưng bởi hệ miễn dịch của cơ thể tấn công gan và gây viêm gan, hoặc viêm gan. Hệ thống miễn dịch của cơ thể thường tấn công vi khuẩn, virus và các tác nhân nước ngoài khác. Nó không phải là vụ tấn công các tế bào của chính nó. Nguyên nhân chính xác của bệnh viêm gan tự miễn là không rõ, nhưng di truyền và các yếu tố môi trường có thể đóng một vai trò trong sự phát triển của bệnh.

Viêm gan tự miễn là một tình trạng mãn tính và có thể dẫn đến tổn thương gan, nguyên nhân gây tăng men gan (ALT / AST). Có hai dạng viêm gan tự miễn: loại 1 (dạng phổ biến nhất) và loại 2. Các giai đoạn chính của điều trị viêm gan tự miễn là những tác nhân ức chế đáp ứng miễn dịch với gan. Các steroid như prednisone có thể được sử dụng, nhưng việc sử dụng steroid lâu dài có thể dẫn đến các biến chứng như tiểu đường, loãng xương, cao huyết áp, tăng cân và tăng nhãn áp. Khi các triệu chứng cải thiện liều steroid giảm, azathioprine (một loại thuốc ức chế miễn dịch) có thể được thêm vào.

Xem ngay: Cách trị men gan cao tại nhà

Top 10 Nguyên Nhân Gây Ra Men Gan Cao Cách Xử Lý
5 (100%) 1 vote

Bình Luận